Hồng trà Chính Sơn Tiểu Chủng sản xuất từ Đồng Mộc Quan núi Vũ Di, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Đây là quê hương của huyền thoại Nham trà hay những loại trà tốt nhất ở Trung Quốc.

vũ di

Hồng trà Chính Sơn Tiểu Chủng

Truyền thuyết kể rằng có một đội quân lính đi qua thung lũng núi Vũ Di đã dừng lại nghỉ ngơi tại nhà một nông dân trồng chè và ngủ qua đêm trên lá chè phơi khô bên ngoài. Người chủ nhà không muốn gây rắc rối, đã trốn trong nhà không ra ngoài, nên không thể chăm sóc chè của mình. Sáng hôm sau khi những người lính rời đi, trà đã bị oxy hóa hoàn toàn. Toàn bộ trà chuyển sang màu đen và nguoiwf nông dân xem như đã hỏng. Vì tiếc, cố gắng để trà không bị bỏ đi lãng phí, người nông dân đem bỏ trà lên chảo nóng và hun lên.

Trong làng có rất nhiều gỗ thông nên gỗ thông được sử dụng trong quá trình đốt chảo. Không ngờ hương khói gỗ thông lại tình cờ tạo nên một hương vị đặc trưng cho trà Chính Sơn Tiểu Chủng. Hòa quyện với chất lượng vốn có của lá trà, hương vị trái cây, hương rừng rõ nét và đậm đà, nước trà màu hổ phách vô cùng ấn tượng. Được sản xuất với số lượng hạn chế vào mỗi mùa xuân, Hồng trà Chính sơn tiểu chủng là một loại trà đặc trưng quý hiếm.

hồng trà chính sơn tiểu chủng

Trà Chính Sơn Tiểu Chủng được làm thủ công bởi những bậc thầy làm trà giàu kinh nghiệm, chỉ dựa vào các phương pháp truyền thống. Để làm loại trà này cần ít nhất 20 bước riêng biệt. Các công đoạn thủ công truyền thống phức tạp, bao gồm làm mát, làm héo, cán, lên men và sấy khô, đóng gói.

Phải cần đến khoảng 5kg lá trà tươi để tạo ra 1kg trà đã diệt men (mao trà), và sau đó cứ 1kg mao trà sau khi sấy khô sẽ khoảng 70g trà Chính sơn tiểu chủng thành phẩm.

Tất cả những quy trình chế biến Hồng trà Chính sơn tiểu chủng phải được thực hiện trong “Thanh Lâu” – một tòa nhà truyền thống ba hoặc bốn tầng – tầng đầu tiên có một lò lớn đốt bằng gỗ thông, lá trà hấp thụ hương khói của gỗ thông đang cháy, trà có mùi khói riêng và tạo nên hương vị đặc trưng của nó, hương mạnh trong những lần pha đầu tiên và nhạt dần qua các lần ngâm tiếp theo, nhưng không bao giờ biến mất hoàn toàn.

Một công đoạn chế biến khá đặc biệt khác là cắt ngắn lá trà ra làm đôi, nhằm mục đích làm bão hòa trà với hương khói này để trà có mùi thơm và vị đậm đà hơn.

Chính Sơn Tiểu Chủng là dòng trà nổi tiếng và được tiêu thụ phổ biến trên khắp thế giới, được coi là Ông Tổ của Hồng trà truyền thống.

Chương Bình Thủy Tiên là một loại trà truyền thống của những người nông dân trồng trà ở thành phố Chương Bình, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Chương Bình Thủy Tiên là loại trà ép bánh duy nhất của dòng trà Ô long.

Năm 1914, một Nghệ nhân trà của thành phố Chương Bình đã tạo thủ công ra bánh trà ô long thủy tiên độc nhất vô nhị trên thế giới.. Trong số hàng chục loại trà ô long được sản xuất ở Chương Bình, đây là loại trà nổi bật nhất.

chương bình thủy tiên

Trà mang đậm hương vị truyền thống, có hương hoa tự nhiên như hoa lan và có mùi thơm của hoa thủy tiên, hương vị êm dịu và độ lưu hương lâu, ngọt hậu.

 

Trà Ô Long Chương Bình Thủy Tiên

 

Tiêu Tửu Dược Trà là Trà giải rượu 100% trà và thảo dược, có tác dụng giải rượu nhanh vượt bậc và an toàn cho người sử dụng.

Kết hợp trong Trà giải rượu “Tiêu Tửu Dược Trà” là Phổ Nhĩ chín lâu năm gói lá và các thảo dược khác, trong đó có Chỉ Củ Tử , Trần Bì, Nhân Sâm, với định lượng đã được nghiên cứu theo nguyên lý Đông Y … để tăng cao hiệu quả giải rượu một cách ấn tượng và an toàn.

Trà Phổ Nhĩ vốn là dòng trà nổi tiếng xuất phát từ vùng Phổ Nhĩ, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Ngoài các ưu điểm ngon và tốt cho sức khỏe thì trà Phổ Nhĩ còn có khả năng giải rượu rất tốt. Tuy nhiên không phải trà Phổ Nhĩ nào cũng có khả năng giải rượu cao như nhau, mà phải được lựa chọn dựa trên một số tiêu chí riêng để đảm bảo tính giải rượu cao nhất.

trà giải rượu

Tiêu Tửu Dược Trà được khuyên dùng ngay sau khi uống rượu và dùng trà nóng ấm, pha nhiều nước để uống. Sản phẩm có thể uống trước khi uống rượu để nâng cao khả năng chống say.

Xem thêm về Trà Phổ Nhĩ giải rượu 

Trà giải rượu

CÁCH DÙNG:

  1. Để nguyên túi vào ấm/ cốc/ bình, dùng nước sôi để pha như pha trà bình thường. Tráng qua bằng nước thứ nhất trong vòng 5 giây. Sử dụng từ nước thứ 2 trở đi.
  2. Khi pha hãm nước sôi trong 30 – 50 giây,
  3. Mỗi túi trà pha bằng ấm trà (Loại ấm trung bình 250 ml) có thể dùng 5  nước cho đến khi trà nhạt màu. Có thể pha vào bình to với 1200 ml – 1500 ml nước sôi.
  4. Dùng tốt nhất khi nước trà ấm nóng.

 

Trà chữa lành – Một khái niệm của Dược Trà

Cơ thể được tạo hóa ban cho năng lực tự chữa lành, chống lại các tác nhân gây bệnh. Trị bệnh phải biết rõ nguyên nhân gây bệnh và nhất là khả năng tự chữa lành của cơ thể.

Củng cố duy trì năng lực tự chữa lành là yếu tố then chốt cho cuộc sống khỏe manh không bệnh tật. Chính năng lực tự chữa lành là cơ chế để tiến tới “sống không bệnh tật, sống lâu sống khỏe, trẻ mãi không già”.

Tại sao “khả năng tự chữa lành” trong mỗi người bị suy yếu đi? Muốn biết điều này cần hiểu những nguyên nhân gây bệnh:

– Ngoại nhân: là nguyên nhân bên ngoài như thời tiết (gió – nóng – lạnh – ướt – khô quá), tia cực tím mặt trời, vi trùng, virút, hóa chất, phóng xạ, ăn uống nhiễm độc chất (thuốc trừ sâu, chất phụ gia, chất bảo quản, chất kích thích…).

– Nội nhân: là nguyên nhân bên trong. Có nghĩa là khi chính khí suy, sức khỏe suy kém, suy giảm hệ miễn dịch.

Chính khí được tạo ra bởi sự cân bằng âm và dương, khí và huyết của lục phủ ngũ tạng trong cơ thể. Chính khí là quá trình bồi bổ, điều hòa khí và huyết ở toàn thân mà có.

Chính khí mạnh thì cơ thể thể khỏe mạnh cường tráng, sức đề kháng tốt, cơ thể có khả năng chống đỡ lại với bệnh tật tốt.

Chính khí hư suy thì cơ thể suy yếu, mệt mỏi, chán nản, sức đề kháng kém, khả năng chống đỡ lại với bệnh tật của cơ thể kém, dễ mắc bệnh, dễ nhiễm dịch.

Tại sao chính khí suy? Chính khí suy do các rối loạn tình cảm, cảm xúc, tâm lý như lo âu, buồn, giận, sợ hãi, … kéo dài liên tục, phải đè nén hay nín nhịn (nuốt giận, giấu buồn, lo âu, sợ hãi mà không dám thổ lộ).

Đặc biệt, stress chính là nội nhân, chính tình trạng stress liên tục, thái quá, phải kiềm chế dồn nén làm tinh thần bất an, căng thẳng, luôn luôn lo, buồn, giận, sợ. Stress làm gia tăng bài tiết cathecholamine, glucocorticoid (cortisol) làm suy giảm miễn dịch, chính tình trạng suy giảm miễn dịch là điều kiện làm xuất hiện phát triển bệnh tật.

Khi hệ miễn dịch suy kém thì các yếu tố gây bệnh mới có thể xâm nhập tấn công cơ thể và gây bệnh. Chính khí suy – sức khỏe kém – làm suy giảm năng lực tự chữa lành của con người.

Bệnh tại bản thân, do chính bản thân từng người tự gây ra trong lối sống (nhiều stress, thiếu vận động thể lực) và chế độ ăn uống (không cân bằng, nhiều axit, thiếu kiềm) dẫn đến chính mình là thủ phạm hủy hoại sức khỏe bản thân. Vì vậy chỉ có chính bản thân mới chủ động tự chữa, tự cứu mình mà thôi.

Như vậy, để chống bệnh, có hai cách là ngăn chặn, hạn chế các tác nhân gây bệnh từ ngoại nhân và duy trì chính khí.

Duy trì chính khí bằng cách giảm stress, sống với tư duy tích cực, vận động cơ thể, rèn luyện tâm an, ăn uống lành mạnh, bổ dưỡng đúng cách, cân bằng tính âm dương, hàn nhiệt, sẽ duy trì được khả năng phòng vệ cơ thể, củng cố năng lực tự chữa lành.

“Chính khí tồn nội, tà bất khả can” nghĩa là sức đề kháng và sức miễn dịch tốt thì mầm bệnh không thể xâm phạm vào cơ thể được.

Duy trì chính khí là tự chữa lành.

Dược trà sử dụng các loại trà, quả, thảo dươc để phối hợp theo nguyên lý Đông y tạo nên những loại trà có tác dụng tốt, bồi bổ, điều hòa khí và huyết cho cơ thể, hợp với từng thể trạng và mục đích mong muốn, uống ngon, uống hàng ngày.

Nguồn: Trà chữa lành.

https://trachualanh.com

Trà Thái Bình Hầu Khôi được trồng từ đầu thế kỷ 20 tại khu vực Hầu Khanh, chân núi Hoàng Sơn, Huyện Hoàng Sơn (nguyên là huyện Thái Bình), tỉnh An Huy, Trung Quốc.

Hoàng sơn không chỉ là khu du lịch phong cảnh nổi tiếng của Trung Quốc, mà còn là một trong những nơi sản xuất danh trà của đất nước này. Ở đây không chỉ có trà Hoàng Sơn Mao Phong nổi tiếng gần xa mà còn có trà Thái Bình Hầu Khôi vang danh thiên hạ.

Trà Thái Bình Hầu Khôi sản xuất tại các khu vực Hầu Khanh, Phụng Hoàng sơn, Sư Đồng sơn, Kê Công sơn, Kê Công Tiêm, ở làng Tân Minh, huyện Hoàng Sơn thành phố Hoàng Sơn, tỉnh An Huy. Trong các khu vực nói trên thì chất lượng trà ở Hầu Khanh đứng đầu.

Hầu Khanh ở phía đông bắc huyện Hoàng Sơn hơn 30 dặm, nơi đây quần thể núi bao bọc, sơn thuỷ hữu tình, khí hậu ôn hoà, vườn trà đa phần ở trên núi cao từ 500 đến 700 mét so với mực nước biển, do bởi lượng mưa dồi dào, ôn độ lớn, ánh nắng vừa phải, chất đất phì nhiêu đã khiến cho sự sinh trưởng của cây trà Hầu Khôi có được điều kiện thiên nhiên ưu đãi.

          Việc thu hái và chế biến trà Thái Bình Hầu Khôi rất nghiêm túc tỉ mỉ. Trà Hầu Khôi hái lúc chồi có lá, chồi trà mập khoẻ, sắc xanh, có nhiều lông tơ, tươi non, đảm bảo chất lượng thành phẩm của trà. Thời kì hái trà Hầu Khôi vào khoảng từ tiết Cốc Vũ đến tiết Lập Hạ. Lúc hái theo tiêu chuẩn “tứ giản bát bất thái” (4 chọn và 8 không hái).

“Tứ giản” là chọn núi cao không chọn núi thấp, chọn phía núi mát không chọn phía núi nắng, chọn cành mập khoẻ không chọn cành mềm yếu có bệnh, đảm bảo lá trà non tươi lớn nhỏ chỉnh tề; đối với chồi đã hái về cần theo tiêu chuẩn 1 chồi 2 lá.

          “Bát bất thái” tức không có chồi không hái, nhỏ không hái, lớn không hái, gầy không hái, cong mềm không hái, sắc nhạt không hái, chồi đỏ tía không hái, sâu đục lá không hái.

          Việc thu hái và chế biến trà Hầu Khôi như sau: hái trà buổi sáng, buổi trưa chọn, buổi chiều chế biến. Trà Hầu Khôi tổng cộng chia làm 9 cấp: Hầu Khôi, Khôi tiêm, Cống tiêm, Thiên tiêm, Địa tiêm, Nhân tiêm , Hoà tiêm, Nguyên tiêm, Loan tiêm, trong đó Hầu Khôi là cực phẩm, thứ đến là Khôi tiêm.

         Phương pháp gia công trà Thái Bình Hầu Khôi chỉ có 2 công đoạn là sao trà và sấy trà, không cần vò. Khi sao trà, dùng tay trộn trên chảo, lửa nóng khoảng 100 độ trở lên, mỗi lần sao chỉ từ 100 đến 150 gram lá tươi, sao liên tục trên chảo từ 3 đến 5 phút, toàn bộ quá trình chế biến chừng 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Cách vô bao đóng gói trà Thái Bình Hầu Khanh cũng rất kĩ lưỡng, cho vào hộp thiếc khi còn nóng, đợi sau khi trà hơi nguội đậy kín nắp để lá trà không biến chất.

          Ngoại hình của trà Thái Bình Hầu Khôi là 2 lá bao lấy chồi, dẹt mà thẳng, dáng tự nhiên, ẩn hiện lông tơ trắng, nên có cách nói là: “Hầu Khôi lưỡng đầu tiêm, bất tán bất kiều bất quyển biên” (trà Hầu Khôi hai đầu nhọn, không bung không vênh không cuốn biên). Sắc của lá xanh mướt, gân xanh của lá ẩn đỏ, tục gọi là “hồng ti tuyến”. Mùi hương của trà cao khiết, vị ngọt đằm, có “Hầu vận” (những đặc tính riêng có của trà Hầu Khôi) đặc biệt độc đáo. Sắc nước xanh trong, lá non tươi láng, chồi mập khoẻ.

Pha trà Thái Bình Hầu Khôi

Khi pha trà Thái Bình Hầu Khôi, dùng “trung đầu pháp”, tức trước tiên bỏ trà vào li sứ hoặc li thuỷ tinh, chế nước sôi khoảng 90 độ chừng 1/3 li, đợi sau khi lá trà ngấm bung ra mới chế đầy nước sôi. Lúc mới bắt đầu uống, lá trà từ từ bung, hai lá bao lấy một chồi, hoặc nổi giữa chừng hoặc chìm, khiến người uống có cảm giác như “đao thương lâm lập” (đao thương tua tủa dựng lên như rừng) “long phi phụng vũ”  (rồng bay phượng múa), khi thưởng thức, sắc nước xanh trong, mùi hương cao khiết, phảng phất có mùi hoa lan quyền rũ, vị ngọt đằm thắm ngon miệng.

Trà Thái Bình Hầu Khôi có lịch sử lâu đời:
– Năm 1912 đoạt giải loại trà ưu tú tại hội chợ Nam Kinh.
– Năm 1955 được đưa vào danh sách 10 loại trà nổi tiếng nhất Trung Quốc.
– Năm 2004 đoạt danh hiệu “Trà vương” của dòng lục trà, bán đấu giá 50 gram trà có giá 61,000 (Sáu mươi mốt nghìn) Nhân dân tệ.
– Tháng 3 năm 2007, Hồ Cẩm Đào dùng làm quốc lễ tặng cho tổng thống Putin.

 

Trà Shan Tuyết là loại trà đặc sản Việt Nam có búp to màu trắng xám, dưới lá chè có phủ 1 lớp lông tơ mịn, trắng nên người dân gọi là chè tuyết. Trà Shan Tuyết loại thông dụng là trà xanh có mùi thơm dịu, nước vàng sánh màu mật ong nhẹ.

 

Cây chè Shan Tuyết là loại cây chè cổ thụ đến vài trăm năm tuổi, cao đến vài mét. Loại chè này sinh trưởng ở khu vực có độ cao hơn 1200 mét ở khu vực núi cao Tây Băc Việt Nam hoặc khu vực tương đương ở vùng Vân Nam, Trung Quốc. Ở địa hình mây mù bao phủ quanh năm, sự chênh lệch về nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn cùng với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng tạo cho trà Shan tuyết có chất lượng tốt.

trà shan tuyết

Chè Shan tuyết thông thường được canh tác hoàn toàn tự nhiên trong các cánh rừng trà bởi người dân tộc Vùng cao, không sử dụng bất cứ một hóa chất hay phân bón nên được xem là trà sạch.

Cây chè Shan Tuyết chủ yếu phân bổ tại vùng Tây Bắc, cây chè Shan tuyết có có nhiều ở Sơn La (Tà Xùa) hay Yên Bái (Suối Giàng) nhưng nhiều nhất là ở vùng Hà Giang.

Trà Shan Tuyết

Từ xưa, trà được chế biến theo phương pháp thủ công của người dân tộc vùng cao Tây Bắc. Hiện nay, có khá nhiều loại trà được chế biến từ cây chè Shan Tuyết như Hồng trà, Lục trà, Bạch trà, trà bánh lên men theo phương pháp trà Phổ Nhĩ , …

 

Trà Đại Hồng Bào là một trong bốn loại trà nổi tiếng nhất ở Vũ Di, Phúc Kiến, được coi là loại trà ô long cao cấp nhất của Trung Quốc. Nước trà Đại Hồng Bào có hương thơm thanh khiết giống như trà xanh và có vị êm dịu như trà đen, màu nước đỏ cam đẹp mắt.

Trà Đại Hồng Bào

Trà Đại Hồng Bào chủ yếu được sản xuất ở vùng núi Vũ Di nằm ở phía đông nam tỉnh Phúc Kiến. Đây là một trong những khu vực sản xuất trà nổi tiếng của Trung Quốc.

Trà Đại Hồng Bào đặc biệt quý hiếm nhất được thu hoạch chế biến từ 6 cây trà cổ thụ ở vách đá Cửu Long Khoa của dãy núi Vũ Di được gọi là Đại Hồng Bào mẹ. Sản lượng từ 6 cây này là khoảng 500 gram hàng năm. Vì vậy, giá rất đắt ( khoảng 1,2 triệu USD/ kg) và nó thường không được bán trên thị trường. Sáu cây trà này hiện nay được bảo vệ và bảo tồn nghiêm ngặt, được xem như Quốc Bảo của Trung Quốc.

Việc thu hái và chế biến trà lọa trà này rất công phu. Mỗi mùa xuân, 3-4 chồi lá mới được hái để chế biến. Quy trình chế biến trà Đại Hồng Bào cơ bản bao gồm: Làm héo > lắc tung > Ô xi hóa lá trà từ 50% – 60% > cán trà > sao trà > thành phẩm.

Hồng Trà bắt nguồn từ Trung Quốc vào thời nhà Minh, và được tạo ra tại khu vực núi Vũ Di tỉnh Phúc Kiến, với tên gọi là “Chính Sơn Tiểu Chủng”.

Chính Sơn Tiểu Chủng Hồng Trà được sản xuất bởi Gia tộc Giang Thị tại Vũ Di Sơn, thôn Đồng Mộc, đến nay đã có lịch sử hơn 400 năm.

Tên gọi Hồng Trà xuất phát từ nước trà có màu nâu đỏ sau khi pha. Hồng trà còn có tên gọi là Black Tea (theo tiếng Anh) do trà có màu đen.

Loại trà này được tạo nên từ quá trình lên men ( oxy hóa toàn phần 100%) búp, lá trà để chúng chuyển hóa từ màu xanh lục sang màu nâu sậm hoặc màu đen

Các loại Hồng Trà tại Trung Quốc:

Cơ bản có một số loại Hồng trà lớn được phân loại dựa vào các phương pháp gia công chế biến và hình thái trà thành phẩm và hình thái trà phẩm khác nhau:

hồng trà

1.Tiểu Chủng Hồng Trà : là loại Hồng Trà lâu đời nhất, nguồn gốc để biến tấu ra các loại khác. Tiểu Chủng Hồng Trà được phân chia thành Chính Sơn Tiểu Chủng và Ngoại Sơn Tiểu Chủng

  • Chính Sơn Tiểu Chủng được sản xuât tại Trấn Đồng Mộc Quan, Thôn Tinh, Vũ Di Sơn, Phúc Kiến. còn có tên gọi là Đồng Mộc Quan Tiểu Chủng”.
  • Ngoại Sơn Tiểu Chủng được sản xuất chủ yếu tại các vùng khác của Phúc Kiến, Thản Dương, Cổ Điền, Sa huyền. Ngoại Sơn Tiểu Chủng đều dựa vào chất lượng của Chính Sơn Tiểu Chủng mà chế biến.

2. Công Phu Hồng Trà : Loại Hồng Trà vô cùng đặc biệt, được làm từ nguyên liệu búp trà non mềm, sau khi thành phẩm trà được cuốn lại một cách chặt chẽ, kích thước đều đặn, màu sắc đen bóng, nồng hậu, vị dịu mà ngọt nồng, màu sắc lá trà và nước trà sau khi được pha có màu đỏ tươi sáng ngời, mang trong mình phẩm chất đặc biệt.

Công Phu Hồng Trà là sản phẩm đặc biệt của Trung Quốc và cũng là sản phẩm xuất khẩu truyền thống. Ở Trung Quốc có mười mấy tỉnh sản xuất Công Phu Hồng Trà ( bao gồm khu trồng trà chính là Tân Cương, Tây Tạng).

3. Hồng Toái Trà : là loại trà dựa trên hình dạng lá trà chế biến thành phẩm mà gọi tên, trà vụn, trà phiến, mạt trà. Nơi sản xuất phân bố tương đối rộng từ Vân Nam, Quảng Đông, Hải Nam, Quảng Tây.

4. Tốc Dung Hồng Trà : là sản phẩm lá trà gia công, dùng nguyên liệu lá trà thuần tự nhiên, sau khi được hong khô sẽ được xay thành bột trà mịn, được phun sương để vo thành viên sau đó hong khô rồi đóng hộp.

5. Mã Biên Công Phu : là sản phẩm mới của Hồng Trà, do xưởng trà Kim Tinh Mã Biên ở Tứ Xuyên sáng tạo ra, tuyển chọn từ nguồn nguyên liệu lá trà nhỏ Tứ Xuyên ở độ cao 1200 – 1500 trên mực nước biển, kết hợp với công nghệ chế biến Công Phu Hồng Trà để sản xuât.

Điều kiện trồng Hồng Trà:

  • Khí hậu nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới
  • Nhiệt độ không khí cao, có đủ lượng mưa
  • Tính Axit trong thổ nhưỡng tốt
  • Thổ những có tính thoát nước tốt

Vào mùa thu hoạch Hồng Trà, thì nhiệt độ trong ngày khô, ẩm cũng ảnh hưởng đến lá trà có chất lượng tốt hay không.

Tác dụng của Hồng trà:

  • Chất tannin trong hồng trà giúp tăng cường hệ miễn dịch, hỗ trợ tiêu hóa tốt hơn.
  • Phòng tránh một số bệnh về tim mạch, tiểu đường.
  • Giúp tinh thần tỉnh táo do có hàm lượng caffeine nhất định.
  • Lợi tiểu, giải độc, giảm nhiệt, sát trùng vết thương.
  • Ngăn ngừa sâu răng, giúp diệt khuẩn, cung cấp thêm các vitamin chống lão hóa, đẹp da, bảo vệ dạ dày.
  • Chất acid giúp tiêu hao bớt lượng mỡ thừa, chất chống oxy hóa EGCG giúp phòng ngừa ung thư.
  • Dưỡng tóc bóng đẹp…

Những lưu ý khi sử dụng hồng trà:

  • Không nên uống trà quá đặc, dễ làm hại cho dạ dày.
  • Nên uống sau khi ăn khoảng 1 tiếng, vì tránh làm cho một số hợp chất trong trà gây ra phản ứng hóa học, làm cản trở quá trình tiêu hóa thức ăn.
  • Tránh uống trà khi đói, vì trong trà có chứa nhiều acid tannic dễ làm tổn thương đến hệ tiêu hóa, sẽ gây buồn nôn và chóng mặt.
  • Tránh uống 3 tiếng trước khi đi ngủ, sẽ gây khó ngủ.
  • Không sử dụng hồng trà cho ngững người đang bị sỏi thận, đau dạ dày, ợ nóng, u bướu,
  • Không sử dụng cho phụ nữ trong thời kì kinh nguyệt, phụ nữ mang thai và sau khi sinh.

Dịch, biên soạn từ nguồn tổng hợp.

Chế biến Hồng trà được thực hiện theo các bước sau:

1.Làm héo : Trà được làm héo bởi ánh sáng mặt trời hoặc dùng nhiệt độ. Lá trà được làm héo đến độ héo phù hợp (lá trà co lại, mất đi độ sáng bóng, gân lá ở trạng thái trong suốt, lá mềm mại …)

quy trình chế biến hồng trà

2. Vò trà: Đây là bước quan trọng trong quy trình chế biến Hồng trà, quá trình vò trà đến khi nào nước trà chảy ra ngoài, trà đóng thành cục là được. Trước đây người ta vò trà thủ công (dùng chân, dụng cụ sử dụng sức người, sức nước), về sau (từ những năm 60 trở đi) dùng máy chạy điện để vò trà ở những xưởng sản xuất lớn.

3. Lên men: Trong Quy trình chế biến Hồng Trà – lên men là khâu rất quan trọng trong việc hình thành lên màu, hương và vị của Hồng Trà. Sau khi được vò xong, lá trà được cho vào rổ, rồi được siết và ấn chặt lại, sau đó dùng vải ẩm phủ lên trên để làm gia tăng độ ẩm và nhiệt độ lên lá trà, thúc đẩy quá trình lên men, cũng như Enzym hoạt động, rút ngắn thời gian lên men. Thường sau 5 đến 6 tiếng gân lá hiện màu hồng nâu.

Mục đích của việc lên men là khiến cho các hoạt chất Polyphenol trong trà bị Oxy hóa dưới tác động của Enzym, khiến cho màu xanh lá trà biến thành màu đỏ. Trà đã vò nhàu thường được cho vào trong thùng hoặc kho để lên men.

3. Hong khô : Lá trà sau khi được lên men, sẽ được rải đều lên sàng, sau đó treo sàng đó lên trên cao rồi dùng gỗ Tùng loại còn hơi tươi đốt để hong khô trà, trà sẽ được hong khô bởi khói và nhiệt. Hong khô trà cần nhiệt độ lửa cao một chút, khoảng 80 °C là tốt nhất, nhiệt độ cao có thể ngăn chặn nấm men phát triển, khiến cho men không bị cao quá, trà cũng không bị ám muội.

4. Hong khô lại : Trà là thuộc loại dễ hấp thụ độ ẩm, trước khi đem Hồng trà bán người ta thường tiến hành hong khô lại thêm một lần nữa, giúp cho trà lưu lại những tố chất tốt nhất trong trà,

Phổ Nhĩ là loại trà đặc biệt, đắt tiền mà giới sành trà, yêu trà đều ưa thích. Từ xưa, trà Phỗ Nhĩ nổi tiếng được sản xuất bằng phương pháp lên men ở Phổ Nhĩ, Vân Nam, Trung Quốc, nơi có giống chè Shan Tuyết cổ thụ mọc trên những vùng núi có độ cao trên 1300 m.

Về sau, các nhà sản xuất trà và thương lái ở Trung Quốc đã phát hiện ở vùng Tây Bắc Việt Nam cũng có giống chè Shan Tuyết cổ thụ tương tự ở Phổ Nhĩ và tìm thu mua mang về Trung quốc để chế biến thành trà Phổ Nhĩ.

Vì sao giống chè Shan Tuyết ở vùng Tây Bắc Việt Nam (Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang) tương tự giống chè Shan Tuyết ở Phổ Nhĩ?

Vùng Phổ Nhĩ thuộc Vân Nam Trung Quốc cùng nằm trong khoảng vĩ độ 22 cùng với Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, khá tương đồng về cao độ và cả thời tiết trung bình trong năm. Phổ Nhĩ chỉ cách Mường Tè – Lai Châu khoảng 150 km và cách Lào Cai khoảng 300 km.

Các khu vực có chè Shan Tuyết cổ thụ ở Phổ Nhĩ – Vân Nam và ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang vùng Tây Bắc tuy rằng ở hai quốc gia nếu xét về biên giới, nhưng lại khá gần nhau, tương đồng về Vĩ độ, khí hậu, địa lý, đều nằm ở độ cao trên 1300 m, nên chất lượng chè tương tự nhau.

Trà Phổ Nhĩ Việt

Phổ Nhĩ tương đồng Vĩ tuyến, khí hậu, độ cao với Lai Châu, Lào cai, Hà Giang và chỉ cách Mường Tè 150 km.

Giống chè Shan Tuyết cổ thụ ở Tây Bắc, Việt Nam và Phổ Nhĩ, Vân Nam Trung Quốc

Với việc sử dụng chè Shan Tuyết cổ thụ ở vùng Tây Bắc, áp dụng phương pháp thu hoạch, chế biến trà theo cách chế biến công phu như tại Phổ Nhĩ, Trung Quốc, trà Phổ Nhĩ Việt được chế biến từ Shan Tuyết cổ thụ Tây Bắc có chất lượng như Phổ Nhĩ Vân Nam.

Trà Phổ Nhĩ Việt

Cổ Mộc Trà – dòng trà Phổ Nhĩ Việt được chế biến công phu từ giống chè Shan Tuyết cổ thụ Tây Bắc

Bài viết nghiên cứu của TraKinh.com. Vui lòng ghi rõ “Nguồn: trakinh.com” khi sử dụng lại nội dung.

error: Content is protected !!